Thứ Năm, 23 tháng 3, 2023

Katinat

BUỔI SÁNG

Những gương mặt người quen và không quen

những giọt cà phê muôn đời đen nhánh
tiếng chim khua vỡ buổi sáng lạnh
gõ thức mặt trời
em ngồi một mình
khuấy loãng thời gian

Buổi sáng muốn gọi anh
nắng nói lời mê ngủ
gió se lạnh chối từ
quàng nỗi nhớ chạy quanh chiếc bàn nhỏ

Bản giao hưởng đêm qua còn phảng phất trên phím dương cầm
người đã vội quên cung bậc cuối
nụ hôn nửa vời
trái tim không cửa
ai hờ hững xéo lên lá cỏ

Buổi sáng ngồi một mình
không quen những nụ cười lạ
em đậm đặc
với nắng thu mưa hạ
tan cùng tàn đông
lòng bàng hoàng luyến tiếc níu vạt áo xuân
đã chậm mất nửa mùa cuối cùng!

Khói thuốc cay và cà phê đắng
cơn đau màu men ngà
buổi sáng ngồi một mình
uống cạn kiệt
lạ
quen!

(Phan Ngọc Thường Đoan - 2000)

p/s: Lâu lâu thay đổi bằng 1 bài thơ.

Vì sao là tiêu đề là Katinat trong khi bài thơ tên là "Buổi sáng"?

- Vì bài thơ này được sáng tác tại quán cà phê Katinat trên đường Đồng Khởi, chỉ vậy thôi :)

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2023

TRIZ methodology

 Lịch sử của TRIZ

TRIZ là từ viết tắt tiếng Nga của " Theory of Inventive Problem Solving  ", một hệ thống sáng tạo được phát triển ở Liên Xô từ năm 1946 đến 1985, bởi kỹ sư và nhà khoa học Genrich S. Altshuller và các đồng nghiệp của ông.

Genrich Altshuller và các đồng nghiệp của ông bắt đầu nghiên cứu TRIZ vào năm 1946. Bài báo đầu tiên về TRIZ được xuất bản vào năm 1956 và Altshuller đã mở rộng công việc của mình trên khắp Liên Xô cho đến những năm 1980. Năm 1995, Viện Nghiên cứu TRIZ Altshuller tại Boston được thành lập tại Hoa Kỳ. TRIZ đã dẫn đến sự ra đời của hàng trăm nghìn phát minh bằng cách trở thành cơ sở nghiên cứu sâu rộng trên các lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên TRIZ hữu ích nhất trong các vai trò như phát triển sản phẩm, kỹ thuật thiết kế và quản lý quy trình. Điển hình như Samsung có 50 bằng sáng chế nhờ TRIZ và tiết kiệm được 100 triệu USD vào năm sau nhờ dự án TRIZ trong năm 2003.


(Nguồn: https://sixsigmastudyguide.com/theory-of-inventive-problem-solving-triz/)

 

 

Phương pháp TRIZ

Có hai khái niệm trung tâm liên quan đến TRIZ. Đó là “tổng quát hóa những vấn đề cần giải quyết và giải pháp - generalizing problems and solutions” và “các mâu thuẫn - contradictions

·      Tổng quát hóa các vấn đề cần giải quyết và giải pháp: Ý tưởng chính của khái niệm này là  các vấn đề  cần giải quyết và giải pháp tương ứng lặp lại giữa các ngành. Những vấn đề này là những mâu thuẫn có thể được giải quyết bằng các giải pháp sáng tạo. TRIZ được sử dụng để hiểu các mẫu mâu thuẫn này và tìm ra các giải pháp, từ đó phát triển các phương pháp mới.

·      Mâu thuẫn: Khái niệm hàm ý rằng cần xác định được các mâu thuẫn; và việc loại bỏ những mâu thuẫn này có thể dẫn đến một giải pháp. Có hai loại mâu thuẫn tồn tại trong TRIZ:

o   Mâu thuẫn kỹ thuật: Mâu thuẫn kỹ thuật xảy ra khi việc cải tiến một thứ gì đó lại dẫn đến một thứ khác chịu ảnh hưởng tiêu cực. Ví dụ như sức mạnh xử lý của máy tính tăng lên (tốt), nhưng nó sử dụng phần cứng khiến nó cồng kềnh hơn (xấu).

o   Mâu thuẫn vật lý: Mâu thuẫn vật lý là cố hữu. Một đối tượng hoặc hệ thống có thể có các yêu cầu trái ngược nhau, dẫn đến mâu thuẫn Vật lý. Ví dụ, một hệ điều hành phải phức tạp để có thể cung cấp nhiều tính năng cho người dùng cuối; tuy nhiên, nó cần đủ dễ sử dụng mà không cần nhiều dòng lệnh. Hoặc một chiếc tủ phải đủ rộng để đựng được nhiều đồ nhưng không chiếm quá nhiều diện tích.

 

Nguyên tắc sáng tạo và giải pháp tiêu chuẩn của TRIZ

Có 40 Nguyên tắc Sáng tạo và 76 Giải pháp Tiêu chuẩn của TRIZ có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề.


(Nguồn: http://www.xtriz.com/publications/ValeriSouchkov-TRIZ-in-the-World.htm)

 

Tài liệu tham khảo

[1].         http://www.xtriz.com/publications/ValeriSouchkov-TRIZ-in-the-World.htm

[2].         https://sixsigmastudyguide.com/theory-of-inventive-problem-solving-triz/

[3].         https://www.designorate.com/triz-method-problem-solving/

[4].         https://www.sixsigmadaily.com/triz-theory-of-inventive-problem-solving/#:~:text=TRIZ%2C%20also%20known%20as%20the,find%20a%20new%20path%20forward.

[5].         https://www.tomspike.com/en/what-is-triz-method/

[6].         https://slidemodel.com/triz-problem-solving/

[7].         https://www.researchwire.in/informative/triz-methodology/

 

 

 

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2023

Innovation S-Curves

 

Innovation S-Curves - đường cong chữ S đổi mới là gì?

Đó là một mô hình nắm bắt vòng đời của một sản phẩm hoặc công nghệ. Mô hình theo dõi hiệu quả tác động hoặc mức độ phổ biến của một công nghệ hoặc sản phẩm từ thời điểm mà nó được hình thành lần đầu tiên cho đến thời điểm nó ngừng hoạt động.

Có bốn giai đoạn trong mô hình này: lên men, cất cánh, trưởng thành và gián đoạn. Mô hình biểu thị hiệu suất (thường là doanh số bán hàng) theo thời gian. Mối quan hệ giữa các kích thước này đối với một sản phẩm hoặc công nghệ có hình dạng kiểu chữ “S”. Độ dốc của đường cong chữ S này cho thấy sản phẩm hoặc công nghệ mới đang được thị trường chấp nhận (hoặc loại bỏ) nhanh như thế nào.




(Nguồn: https://worldofwork.io/2019/07/the-innovators-dilemma/)

Một tính năng đặc biệt thú vị của mô hình này là cách nó thể hiện hiệu quả quá trình chuyển đổi giữa các công nghệ thống trị trong một khoảng thời gian. Mỗi công nghệ trải qua một chữ S trong vòng đời của nó. Ở giai đoạn đầu của cuộc đời, nó đang cạnh tranh với công nghệ đi trước nó. Ở giai đoạn sau của cuộc đời, nó đang cạnh tranh với công nghệ cuối cùng sẽ thay thế nó.

.

(Nguồn: https://innovationmanagement.se/2016/09/16/riding-the-s-curve/)

Tài liệu tham khảo

[1].         https://readingraphics.com/book-summary-the-innovators-dilemma/

[2].         https://worldofwork.io/2019/07/the-innovators-dilemma/

[3].         https://fourminutebooks.com/the-innovators-dilemma-summary/

[4].         https://techcrunch.com/2012/04/08/strategy-for-startups-the-innovators-dilemma/

[5].         https://web.mit.edu/6.933/www/Fall2000/teradyne/clay.html

 

 

 

 

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2023

The Innovator’s Dilemma

 The Innovator’s Dilemma - Tiến thoái lưỡng nan của nhà đổi mới

Trong cuốn sách của mình, The Innovator's Dilemma , Giáo sư Clayton Christensen của Trường Kinh doanh Harvard mô tả một lý thuyết về việc các công ty lớn, xuất sắc có thể thất bại như thế nào "bằng cách làm đúng mọi thứ - by doing everything right." Theo Christensen, The Innovator's Dilemma mô tả những công ty mà những thành công và khả năng của họ thực sự có thể trở thành trở ngại khi đối mặt với sự thay đổi của thị trường và công nghệ.



(Nguồn: https://www.amazon.com/Innovators-Dilemma-Revolutionary-Change-

Business/dp/0062060244)

 

Christensen mô tả hai loại công nghệ: công nghệ bền vững (sustaining technologies) và công nghệ đột phá (disruptive technologies). Công nghệ bền vững là công nghệ cải thiện hiệu suất sản phẩm. Đây là những công nghệ mà hầu hết các công ty lớn đều quen thuộc; các công nghệ liên quan đến việc cải tiến một sản phẩm đã có vai trò vững chắc trên thị trường. Hầu hết các công ty lớn đều thành thạo trong việc biến những thách thức công nghệ bền vững thành thành tựu. Christensen tuyên bố rằng các công ty lớn gặp khó khăn trong việc xử lý các công nghệ đột phá. Công nghệ đột phá là "những đổi mới dẫn đến hiệu suất sản phẩm kém hơn, ít nhất là trong thời gian tới." Chúng thường rẻ hơn, đơn giản hơn, nhỏ hơn và thường xuyên sử dụng thuận tiện hơn. Các công nghệ đột phá ít xảy ra hơn, nhưng khi chúng xảy ra, chúng có thể gây ra sự thất bại cho các công ty rất thành công, những công ty chỉ chuẩn bị cho các công nghệ bền vững.


(Nguồn: https://www.researchgate.net/publication/341699756)

 

 Như biểu đồ trên cho thấy, các công nghệ đột phá gây ra vấn đề vì ban đầu chúng không đáp ứng được nhu cầu của thị trường cao cấp. Do đó, các công ty lớn chọn bỏ qua các công nghệ đột phá cho đến khi chúng trở nên hấp dẫn hơn về mặt lợi nhuận. Tuy nhiên, các công nghệ đột phá cuối cùng sẽ vượt qua các công nghệ bền vững trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường với chi phí thấp hơn. Khi điều này xảy ra, các công ty lớn không sớm đầu tư vào công nghệ đột phá sẽ bị bỏ lại phía sau. Theo Christensen, đây là "Thế tiến thoái lưỡng nan của nhà đổi mới".

Giải quyết thế tiến thoái lưỡng nan của nhà đổi mới

Giải pháp nằm ở chỗ các công ty có thể xác định, phát triển và tiếp thị thành công các công nghệ mới nổi, có khả năng đột phá trước khi chúng vượt qua công nghệ bền vững truyền thống. Tuy nhiên, như được mô tả trong Innovator’s Dilemma, các mạng giá trị và cấu trúc tổ chức của các công ty này khiến quá trình hoàn thành trở nên khó khăn.

 Việc xác định những công nghệ đột phá này có thể là một nhiệm vụ khó khăn bởi vì, như Christensen đã nói, "markets that do not exist cannot be analyzed - không thể phân tích những thị trường không tồn tại". Khi cố gắng giải quyết Thế tiến thoái lưỡng nan của Nhà đổi mới, các nhà quản lý nên chừa chỗ cho sự thất bại trong kế hoạch của họ và sẵn sàng đầu tư vào những gì có thể là một công nghệ đột phá tiềm ẩn. Điều này đòi hỏi bản thân công ty phải sẵn sàng thoát khỏi sự thất bại, và nếu thất bại xảy ra, hãy gói ghém những bài học từ kinh nghiệm trở lại công ty để chuẩn bị cho cơ hội tiếp theo. Ngay cả sau khi xác định chính xác các công nghệ có khả năng gây đột phá, các công ty vẫn phải tránh hệ thống phân cấp và bộ máy quan liêu có thể cản trở việc theo đuổi tự do các ý tưởng sáng tạo.

Thế tiến thoái lưỡng nan của nhà đổi mới thực sự là một vấn đề mà các tổ chức phải đối mặt hàng ngày. Họ biết rằng để tồn tại trong tương lai, họ cần sản xuất các sản phẩm của tương lai và điều này có nghĩa là họ cần phải đổi mới. Đồng thời, họ cũng biết rằng nếu họ tạo ra một sản phẩm mới, họ sẽ phá vỡ các sản phẩm đang có lợi nhuận của họ.

Tài liệu tham khảo

[1].         https://readingraphics.com/book-summary-the-innovators-dilemma/

[2].         https://worldofwork.io/2019/07/the-innovators-dilemma/

[3].         https://fourminutebooks.com/the-innovators-dilemma-summary/

[4].         https://techcrunch.com/2012/04/08/strategy-for-startups-the-innovators-dilemma/

[5].         https://web.mit.edu/6.933/www/Fall2000/teradyne/clay.html

 

 

 

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2023

Six Thinking Hats

 Kỹ thuật Sáu chiếc mũ tư duy - Six Thinking Hats - là gì?

Tiến sĩ Edward de Bono, một bác sĩ, nhà tâm lý học và triết gia người Malta, đã viết cuốn sách có tên “Six Thinking Hats” vào năm 1985. Như đã nêu trên bìa cuốn sách, kỹ thuật đơn giản này dựa trên các phương thức tư duy khác nhau của bộ não và nhằm mục đích trao quyền cho mọi người để “điều hành các cuộc họp tốt hơn, đưa ra quyết định nhanh hơn”. Tiến sĩ de Bono tin rằng khó khăn chính yếu của việc dẫn đến suy nghĩ nhầm lẫn là do mọi người cố gắng làm quá nhiều việc cùng một lúc. Về cốt lõi, nó giống như thể mọi người cố gắng tung hứng quá nhiều quả bóng, để cho vô số trách nhiệm lấn át họ. Để giúp giải quyết thách thức như vậy, ông mô tả 6 kiểu suy nghĩ khác nhau, với mỗi kiểu được thể hiện bằng một màu mũ duy nhất. Đây là cách khái niệm Sáu chiếc mũ tư duy ra đời.

 


(Nguồn: https://www.onedaydesignchallenge.net/en/journal/six-thinking-hats-technique)

 

Sáu chiếc mũ tư duy đó là gì?

·     White Hat: "the Factual Hat":  Chiếc mũ trắng giúp chúng ta suy nghĩ một cách khách quan và trung lập nhất có thể. Với suy nghĩ này, chúng ta cần tập trung vào dữ liệu có sẵn, nhìn vào thông tin chúng ta có và học hỏi từ nó.

·     Red Hat: "the Hat for the Heart": Với chiếc mũ đỏ, chúng ta có thể bày tỏ cảm xúc, trực giác của mình mà không cần biện minh.

·     Black Hat: "the Judge's Hat" : Chiếc mũ đen được sử dụng để chỉ trích theo cách tiêu cực, nghĩ rằng tại sao điều gì đó không thể diễn ra tốt đẹp. Với chiếc mũ đen, chúng ta sẽ kích hoạt suy nghĩ phán đoán và thận trọng, tiết lộ những khía cạnh tiêu cực của vấn đề được giải quyết.

·   Yellow Hat: "the Optimist's Hat": Với chiếc mũ vàng, khác với chiếc mũ đen, chúng ta cố gắng nhìn vào những khía cạnh tích cực của một vấn đề cụ thể; nó sẽ giúp chúng ta thấy tại sao một thứ sẽ hoạt động và tại sao nó sẽ mang lại lợi ích.

·       Green Hat: "the Creative Hat": Chiếc mũ xanh lá cây mở ra những khả năng sáng tạo và có mối liên hệ sâu sắc với tư duy đa chiều hoặc khác biệt.

·       Blue Hat: "the Conductor's Hat": Và cuối cùng, chiếc mũ xanh da trời là thứ kiểm soát tất cả những chiếc mũ khác. Nó quy định thời gian và thứ tự của các chủ đề khác nhau.


Phương pháp Sáu chiếc mũ có thể được sử dụng theo trình tự: đầu tiên là khám phá vấn đề, sau đó phát triển một loạt giải pháp và cuối cùng là chọn giải pháp thông qua phân tích phản biện. Tuy nhiên, trình tự này không hoàn toàn nhất thiết phải theo đúng thứ tự như nêu trên mà có thể thay đổi cho phù hợp.

 

.

Tài liệu tham khảo

[1].         https://www.onedaydesignchallenge.net/en/journal/six-thinking-hats-technique

[2].         https://www.mindtools.com/ajlpp1e/six-thinking-hats

[3].         https://www.groupmap.com/portfolio/six-thinking-hats

[4].         https://www.debonogroup.com/services/core-programs/six-thinking-hats/

[5].         https://airfocus.com/glossary/what-are-the-six-thinking-hats/

[6].         https://www.toolshero.com/decision-making/six-thinking-hats-de-bono/

[7].         https://safetyculture.com/topics/six-thinking-hats/

[8].         https://www.southampton.ac.uk/~assets/doc/hr/Six%20thinking%20hats.pdf

 

 

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2023

SCAMPER

 


Scamper the Penguin - 1986


SCAMPER là gì?

SCAMPER là một phương pháp tư duy sáng tạo được phát triển bởi Bob Eberle , tác giả của cuốn sách “SCAMPER: Games for Imagination Development” năm 1971.  Trong phương pháp tư duy này, bạn sẽ tìm thấy 7 câu hỏi khác nhau để khuyến khích và truyền cảm hứng cho cả nhóm tiếp cận vấn đề thông qua 7 bộ lọc độc đáo. Bằng cách yêu cầu tất cả thành viên trong nhóm suy nghĩ thấu đáo một vấn đề bằng cách sử dụng khung tư duy này, cả nhóm sẽ tìm ra những cách mới mẻ, sáng tạo để hiểu vấn đề mà bạn đang cố gắng giải quyết.

 


(Nguồn: https://www.slidesalad.com/product/scamper-technique-google-slides-template-designs/)

 

Bảy kỹ thuật SCAMPER

Tên gọi SCAMPER chính là chữ viết tắt của tên gọi bảy kỹ thuật trong phương pháp này:

·      Substitute

·      Combine

·      Adapt

·      Modify (also Magnify and Minify)

·      Put to another use

·      Eliminate

·      Reverse.

Substitute - Thay thế:

Tìm một phần trong khái niệm, sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình của bạn, v.v. mà bạn có thể thay thế bằng một phần khác để xem liệu nó có mang lại những cải tiến hay không,  như một quy trình thử và sai. Điều này sẽ giúp bạn kiểm tra phương án thay thế nào hoạt động tốt hơn. Một ví dụ về sự thay thế sẽ là một nhà sản xuất ô tô sử dụng các vật liệu tổng hợp khác nhau cho khung để làm cho xe nhẹ hơn.

Combine - Kết hợp

Nhiều vấn đề tương tự có thể đã được giải quyết, bạn không cần phải nghĩ ra ý tưởng hoàn toàn mới. Bạn có thể kết hợp nhiều ý tưởng, quy trình hoặc sản phẩm thành một giải pháp hoặc một sản phẩm hiệu quả hơn. Một ví dụ tuyệt vời cho sự kết hợp của hai sản phẩm khác nhau là điện thoại di động có tích hợp camera.

Adapt - Thích nghi

Đôi khi một ý tưởng có tác dụng giải quyết một vấn đề này, cũng có thể sử dụng thích ứng để giải quyết một vấn đề khác. Một ví dụ về sự thích ứng thành công với tình huống mới là Netflix. Công ty bắt đầu hoạt động vào năm 1999 với tư cách là dịch vụ cho thuê DVD, nhưng không giống như Blockbuster, họ nhanh chóng nhận ra rằng tương lai thuộc về phát trực tuyến và thay đổi mô hình kinh doanh của mình. Netflix hiện là đối thủ cạnh tranh nặng ký với các mạng truyền hình truyền thống, trong khi Blockbuster ngừng hoạt động vào năm 2013.

Modify (also Magnify and Minify) - Biến đổi

Sửa đổi một khía cạnh của tình huống hoặc vấn đề của bạn, chẳng hạn như bằng cách phóng đại, tức là phóng đại, chúng và xem liệu nó có mang lại cho bạn một cái nhìn sâu sắc mới hay liệu nó có thêm bất kỳ giá trị nào không. Điều này sẽ giúp bạn xác định phần nào trong quy trình hoặc khái niệm của bạn là quan trọng nhất. Một ví dụ để phóng đại một khía cạnh là một tổ chức quyết định mở rộng sản xuất một sản phẩm và tập trung vào sản phẩm đó.

Put to another use - Đưa vào một cách dùng khác

Điều này rất giống với “Thích ứng”, đó là về việc đưa một ý tưởng hoặc khái niệm hiện có vào một mục đích sử dụng khác, tức là sử dụng nó khác với dự định ban đầu. Một ví dụ là sử dụng chất thải đại dương để sản xuất giày hoặc các sản phẩm được phát minh cho một mục đích sử dụng hoàn toàn khác so với những gì chúng đang được sử dụng hiện nay.

Eliminate - Loại bỏ

Thực hiện loại bỏ các quy trình không hiệu quả. Một ví dụ cho việc loại bỏ là quyết định của Apple không trang bị ổ đĩa CD/DVD quang trong MacBook Air của họ để làm cho chúng mỏng hơn và nhẹ hơn.

Reverse - Đảo ngược

Đảo ngược là làm trái ngược lại một quy trình hoặc sản phẩm thông thường, làm mọi thứ theo cách khác, hoàn toàn đi ngược lại mục đích ban đầu của nó. Đôi khi bạn đảo ngược cách sử dụng một sản phẩm, nó sẽ giúp bạn nhìn mọi thứ từ một góc độ khác. Ví dụ: nếu một tổ chức luôn sử dụng cách tiếp cận từ trên xuống khi đưa ra quyết định, họ có thể cải thiện quy trình ra quyết định của mình bằng cách áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên.

    



(Nguồn: https://creativityinmath.weebly.com/divergent-tools.html)

.

Tài liệu tham khảo

[1].         https://creativityinmath.weebly.com/divergent-tools.html

[2].         https://www.inloox.com/company/blog/articles/innovation-better-problem-solving-with-the-scamper-method/

[3].         https://www.designorate.com/a-guide-to-the-scamper-technique-for-creative-thinking/

[4].         https://miro.com/templates/scamper/

[5].         https://www.mycoted.com/SCAMPER

[6].         https://www.mindtools.com/ao2rt8j/scamper

 

 

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2023

Crowdsourcing

Crowdsourcing – dịch vụ cộng đồng - là gì?

Crowdsourcing liên quan đến việc thực hiện công việc, thu thập thông tin hoặc thu thập ý kiến từ một nhóm lớn những người dùng mạng, bằng gửi dữ liệu qua Internet, qua mạng xã hội hoặc qua các ứng dụng điện thoại thông minh.

Những người tham gia vào crowdsourcing đôi khi làm việc với tư cách là người làm việc tự do được trả lương, trong khi những người khác thực hiện các nhiệm vụ nhỏ một cách tự nguyện. Ví dụ: các ứng dụng giao thông như Waze khuyến khích người lái xe tự báo cáo tai nạn và các sự cố khác trên đường để cung cấp thông tin cập nhật, theo thời gian thực cho người dùng ứng dụng. Crowdsourcing cho phép các công ty tiết kiệm thời gian và tiền bạc trong khi tiếp cận những người có kỹ năng hoặc suy nghĩ khác nhau từ khắp nơi trên thế giới.


(Nguồn: https://www.researchgate.net/publication/282744699

 

Crowdsourcing cho phép các công ty tạo ra công việc cho mọi người ở bất cứ đâu trong nước hoặc trên toàn thế giới; kết quả là, dịch vụ cộng đồng cho phép doanh nghiệp khai thác vô số kỹ năng và kiến thức chuyên môn mà không phải chịu chi phí chung thông thường của nhân viên nội bộ. Crowdsourcing đang trở thành một phương pháp phổ biến để huy động vốn cho các dự án đặc biệt. Là một giải pháp thay thế cho các lựa chọn tài trợ truyền thống, nguồn lực cộng đồng khai thác lợi ích chung của một nhóm, bỏ qua những người gác cổng và trung gian thông thường cần thiết để huy động vốn.

Các loại crowdsourcing

Có nhiều loại crowdsourcing khác nhau.

·      Một crowd contest là một loại crowdsourcing  phổ biến. Trong trường hợp này, một tổ chức có thể sử dụng cuộc thi đám đông để tạo ra thứ gì đó, chẳng hạn như thiết kế đồ họa. Tổ chức có thể tìm kiếm nhiều nhà thiết kế đủ tiêu chuẩn, mỗi người sẽ gửi ý tưởng hoặc ý tưởng tốt nhất của họ với hy vọng trở thành người chiến thắng duy nhất sẽ được trả tiền để tạo ra thiết kế hàng đầu. Tương tự, một tổ chức có thể sử dụng crowdsourcing để tìm kiếm một cá nhân có thể xử lý một dự án cụ thể - một crowdsourcing được gọi là nhiệm vụ vĩ mô. Hoặc tổ chức có thể tìm kiếm nhiều người tham gia, giao cho mỗi người một số nhiệm vụ hoặc một phần nhỏ hơn trong một dự án lớn hơn. Đây là các nhiệm vụ vĩ mô vi mô.

·      Một loại khác của crowdsourcing là huy động vốn từ cộng đồng (crowdfunding), trong đó các cá nhân hoặc tổ chức phi lợi nhuận huy động nguồn tài chính từ cộng đồng để trang trải chi phí cho một nhu cầu nó đó (Có thể là một kỳ nghỉ mơ ước, một khoản tiền mua nhà, một nỗ lực nghệ thuật hay một điều gì đó có ý nghĩa). Các doanh nhân cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của họ, mặc dù luật đầu tư có thể hạn chế những gì họ có thể yêu cầu và hứa hẹn đổi lại.

 

·      Ngoài ra còn có một loại huy động cộng đồng được gọi là crowd voting - bỏ phiếu cộng đồng. Nó đơn giản như cái tên: Đám đông bỏ phiếu để xác định lựa chọn tốt nhất. Các tổ chức/cá nhân có thể chọn sử dụng bỏ phiếu đám đông để thu hút các bên liên quan, chẳng hạn như nhân viên hoặc khách hàng, cũng như công chúng để giúp ưu tiên các ý tưởng hoặc giúp xác định hướng hành động.

Một số lĩnh vực của cộng đồng cũng đóng góp giá trị cho các nghiên cứu. Ví dụ, cộng đồng trả lời khảo sát để từ đó đóng góp dữ liệu hoặc giúp đánh giá các phân tích, báo cáo.



(Nguồn: https://www.researchgate.net/publication/265167837)

.

Tài liệu tham khảo

[1].         https://www.investopedia.com/terms/c/crowdsourcing.asp#:~:text=By-,What%20Is%20Crowdsourcing%3F,others%20perform%20small%20tasks%20voluntarily.

[2].         https://www.techtarget.com/searchcio/definition/crowdsourcing

[3].         https://sproutsocial.com/glossary/crowdsourcing/

[4].         https://crowdsourcingweek.com/what-is-crowdsourcing/

[5].         https://www.clickworker.com/about-crowdsourcing/

[6].         https://www.braineet.com/blog/crowdsourcing https://crowdsource.google.com/about/

 

 

Food chains và Food webs

Chuỗi thức ăn (food chain) là một đường truyền năng lượng và vật chất theo tuyến tính, từ sinh vật này sang sinh vật khác qua quan hệ ăn — ...